Những câu chuyện khoa học

Những câu chuyện khoa học

Bài viết chưa xemgửi bởi tran viet anh 248 » Thứ 5 Tháng 3 30, 2006 9:38 am

"Sai lầm ngu ngốc" của Albert Einstein

Theo “kinh nghiệm” của Albert Einstein, nhà khoa học vĩ đại nhất trong thế kỷ XX, nếu muốn trở thành người nổi tiếng, thì nên nói và viết thế nào để không ai hiểu được.

Albert Einstein với phát minh thiên tài của ông trong Thuyết tương đối mô tả quan hệ giữa năng lượng (E) với khối lượng (m) và tốc độ ánh sáng (c)

Ý kiến này được đưa ra năm 2005, nhân kỷ niệm 100 năm phát minh ra Thuyết tương đối (1905-2005).

Khi Thuyết tương đối của Albert Einstein mới được công bố, chỉ có vài người hiểu được lý thuyết đó. Thế nhưng, tác giả của nó thì cả thế giới đều biết đến tên tuổi.

Đến nay, sau 100 năm công bố Thuyết tương đối, tiến bộ khoa học đã đi rất xa so với thời điểm năm 1905, nhưng số người hiểu được lý thuyết khoa học này cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Nhưng ở Anh và Mỹ, khi được hỏi “Bạn thích nhân bản ai đầu tiên?”, thì Albert Einstein là người được xếp đầu danh sách, sau đó mới đến những danh nhân kiệt xuất khác trong các lĩnh vực khoa học, chính trị và nghệ thuật.

Cũng trong năm 2005, các nhà khoa học thuộc đề án “Nghiên cứu dấu vết các ngôi sao siêu mới” (Supernova Legacy Survey), vừa công bố kết quả nghiên cứu các ngôi sao xuất hiện cách xa chúng ta 2-8 tỷ năm ánh sáng và phát hiện ra một điều vô cùng lý thú, chứng tỏ Albert Einstein và Thuyết tương đối của ông không chỉ khó hiểu mà còn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn về thiên tài kỳ lạ của nhà khoa học này.

Chuyện là, khi xây dựng Thuyết tương đối, Albert Einstein tìm ra một phương trình toán học mô tả sự cân bằng hài hoà của vũ trụ, trong đó có chứa một hằng số, mà ông gọi là hằng số vũ trụ.

Theo Albert Einstein, vũ trụ là một hệ thống cân bằng, thống nhất hài hoà, và ông có ý định xây dựng một luận thuyết khoa học có thể mô tả được tất cả các hiện tượng trong tự nhiên.

Albert Einstein gọi đó là Lý thuyết trường thống nhất. Nhưng về sau, các quan sát thiên văn chứng tỏ vũ trụ đang giãn nở với tốc độ ngày càng gia tăng và không hề có sự cân bằng. Thế là Albert Einstein quyết định đưa hằng số vũ trụ ra khỏi phương trình toán học do chính ông phát minh ra.

Trong những năm 1990, rất lâu sau khi Albert Einstein qua đời, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong vũ trụ tồn tại năng lượng đen, một loại lực phản hấp dẫn có tác dụng đùn đẩy vật chất.

Như vậy, các vật trong tự nhiên không chỉ “cuốn hút” nhau bởi lực hấp dẫn nhau mà còn đẩy nhau nữa. Chính từ phát hiện này, các nhà khoa học hy vọng có thể giải thích được hiện tượng giãn nở tăng tốc của vũ trụ. Nhưng thế nào là năng lượng đen thì cho đến nay vẫn chưa ai đưa ra được định nghĩa một cách chính xác.

Một giả thuyết cho rằng nó tồn tại dưới dạng các hạt đặc biệt. Còn các nhà khoa học tham gia đề án thì khẳng định năng lượng đen rất giống với hằng số vũ trụ, tồn tại khắp nơi trong không gian và trong thời gian.

Kết quả quan sát của các nhà khoa học làm việc tại nhiều kính thiên văn bố trí tại các nước khác nhau trên thế giới cho phép phát hiện ra các vụ nổ từ những ngôi sao siêu mới cách chúng ta vài tỷ năm ánh sáng.

Bằng cách đo khoảng cách, độ sáng, quang phổ của những ngôi sao đó, các nhà thiên văn xác nhận tác động của năng lượng đen không thay đổi khi tăng khoảng cách tới bất kỳ vật thể nào trong vũ trụ.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc sống có những điều ta cần khám phá.
Hình đại diện của thành viên
tran viet anh 248
Thành viên nhiệt tình
Thành viên nhiệt tình
 
Bài viết: 132
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 11 07, 2005 5:26 am
Đến từ: hue

Bài viết chưa xemgửi bởi tran viet anh 248 » Thứ 5 Tháng 3 30, 2006 9:46 am

Michael Faraday và gian phòng thí nghiệm nhỏ

Michael Faraday (1791 - 1867), là nhà hóa học, nhà vật lý người Anh. Nhà nghèo ông gần như không được học qua một trường lớp chính quy nào, nhưng vì cần cù hiếu học nên ông đã giành được rất nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Thành quả trong lĩch vực hóa học quan trọng nhất của ông là phát hiện ra Bengen (C6H6). Cống hiến lớn nhất trong lĩnh vực điện tử học của ông là làm quay được mạch điện trong từ trường của nam châm vĩnh cửu, đặt cơ sở cho việc chế tạo động cơ điện, nó có ý nghĩa xuyên thời đại đối với việc lợi dụng điện năng của nhân loại. Thành tựu cao nhất của ông là phát minh Định luật cảm ứng điện từ, mở màn cho nhân loại đi từ thời đại hơi nước sang thời đại điện khí.

Gian phòng thí nghiệm nhỏ

Cuộc sống của chúng ta gắn liền với điện, đèn điện, ti vi, điện thoại,... đều cần dùng tới điện. Điện đem lại cho con người ánh sáng, đem lại mọi tiện lợi. Ai là người đầu tiên làm ra máy phát điện? Đó chính là nhà khoa học lớn người Anh - Michael Faraday.

Lúc còn nhỏ gia đình nghèo, bố là thợ rèn, dưới Faraday còn 4 người em nhỏ và không được học hành tử tế. Lúc 13 tuổi để kiếm tiền giúp gia đình ông vào phụ việc ở một cửa hàng đóng sách ở Luân Đôn, chủ yếu là đưa sách và báo. Chồng báo trên vai ông đi cùng các đường phố Luân Đôn. Lanh lợi, thông minh lại rất lễ phép với mọi người, làm việc chịu khó, ông chủ cửa hàng đóng sách rất thích ông, đã nhận ông vào học việc. Faraday rất vui mừng, như vậy ông sẽ có dịp suốt ngày làm bạn với sách báo, có thể học được nhiều điều.

Faraday ở trên gác xép của cửa hàng sách, hàng ngày ông có thể đọc được rất nhiều sách thú vị, thí dụ "Một ngàn một đêm lẻ", những câu chuyện trong đó đã hút hồn ông. Ông chủ hiệu sách là người rất tốt, ông cũng thường cổ vũ Faraday đọc sách.

Một hôm Faraday đọc được cuốn sách có tên là "Đối thoại hóa học", sách đã giới thiều rất nhiều tri thức hóa học thú vị, còn có nhiều thí nghiệm nhỏ. Ông rất thích thú với những thí nghiệm kỳ lạ đó, nên cũng muốn tự tay mình làm thử xem điều sách nói có đúng không. Thế là Faraday dùng gác xép của mình đang ở làm phòng thí nghiệm nhỏ. Ông cần một số chai lọ và một số bình đựng thủy tinh nhưng không có tiền để mua nên ông phải nhặt chai lọ thủy tinh bỏ ở nhà thuốc, ông nhặt nhạnh những dây đồng nhỏ và các tấm kẽm ở các đống rác thải ở các nhà máy. Hàng ngày, Faraday đều miệt mài trong "lãnh địa" riêng của mình, làm thí nghiệm đã trở thành việc làm thú vị nhât trong cuộc sống của ông.

Trong cuốn sách "Đối thoại hóa học" viết, thả một tấm kẽm vào trong axit clohydric sẽ sinh ra một loại khí cháy được. Faraday làm theo sách, quả nhiên có một loại khí cháy lên ngọn lửa màu xanh, trên thực tế thứ khí có thể cháy đó chính là hidro. Có quyển sách nói, bọc một lớp giấy tráng thiếc ngoài một chiếc chai thủy tinh, sau khi nạp điện sẽ phóng điện mạnh. Để làm thí nghiệm này Faraday đã bỏ ra 6 pence để mua một cái chai thủy tinh lớn và 7 pence mua giấy thiếc.

Ông đổ nước vào chai, cho một cái que bằng kim loại vào chai, như vậy là có một điện cực đơn giản. Ông nạp điện cho chai nước, sau đó dùng một dây đồng nhỏ cẩn thận nối que kim loại cắm trong chai với giấy thiếc, khi dây đồng tiếp cận với que kim loại thì xuất hiện lóe sáng và còn phát ra tiếng nổ "tạch, tạch", đúng là phóng điện! Faraday mừng rỡ, ông dần dần nghiện thí nghiệm.

Những thí nghiệm của Faraday đã gây sự chú ý của ông bà chủ. Ông chủ thấy Faraday rất lạ, hễ có dù là một đồng tiền lẻ cũng chạy ra phố với ánh mắt khác thường. Bà chủ còn phát hiện muối ăn trong nhà bếp của họ hết rất nhanh, thường thì liễn muối ăn nhỏ của họ dùng được khá lâu nhưng gần đây chỉ 2 ngày gì đó đã hết rồi. Bà lấy làm khó hiểu, chuyện gì xảy ra vậy? Sau này bà phát hiện ra Faraday đã lấy muối làm thí nghiệm.

Đêm đêm tiếng vang "lẹt xẹt" phát ra từ căn gác xép trên lầu, còn có những ánh sáng lạ, có một lần từ cửa sỏ bỗng phun ra mấy làn khói nồng đặc. Bà chủ rất lấy làm lạ, nhưng vẫn không biết Faraday làm trò gì. Mọi người xung quanh đều nói rằng đứa trẻ này mắc bệnh thần kinh, nửa đêm cũng không ngủ.

Ông chủ hiệu đóng sách là người hết sức độ lượng, ông không hề trách Faraday, ông biết đứa trẻ này cần cù hiếu học, sau này nhất định sẽ có tiền đồ tốt đẹp. Và như vậy, trong vương quốc nhỏ bé của mình Faraday đã tìm được tri thức và những hứng thú trong thí nghiệm để bước vào ngưỡng cửa của khoa học.

"Không thể nói rằng tôi không trân trọng những vinh dự này, hơn nữa thừa nhận nó rất có giá trị; nhưng chỉ có điều tôi chưa từng làm việc vì mục tiêu nhằm đạt được những vinh dự đó"
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc sống có những điều ta cần khám phá.
Hình đại diện của thành viên
tran viet anh 248
Thành viên nhiệt tình
Thành viên nhiệt tình
 
Bài viết: 132
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 11 07, 2005 5:26 am
Đến từ: hue

Bài viết chưa xemgửi bởi tran viet anh 248 » Thứ 5 Tháng 3 30, 2006 9:53 am

Người từng đoạt giải thưởng Nobel về Vật lý bị đi tù -

Ông Jonh Robert Sriffer, người đoạt giải Nobel Vật lý năm 1972, sẽ phải ngồi tù 2 năm do đã gây ra án mạng trong một vụ tai nạn giao thông.

Ông Sriffer năm nay đã 74 tuổi. Vào ngày 24/9 năm ngoái, trên chiếc xe thể thao Mercedes của mình, ông đã phóng trên đường quốc lộ với vận tốc 160 km/h và đâm vào một chiếc xe khác, khiến một người bị chết.

Theo các phương tiện thông tin đại chúng cho biết, tình tiết tăng tội của ông nằm ở chỗ Sriffer không có bằng lái xe thể thao. Đồng thời, trong bằng lái xe của ông còn có chứng nhận đã từng 8 lần phải nộp phạt do lái xe vượt quá tốc độ.

Hiện Sriffer đang bị giam trong nhà tù của bang California tại Basko.

Jonh Robert Sriffer đoạt giải Nobel về Vật lý năm 1972, nghiên cứu về thuyết siêu dẫn, cùng với hai nhà khoa học khác.

Vào thời gian trước khi xảy ra tai nạn, Sriffer là giáo sư giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp bang Florida.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
Cuộc sống có những điều ta cần khám phá.
Hình đại diện của thành viên
tran viet anh 248
Thành viên nhiệt tình
Thành viên nhiệt tình
 
Bài viết: 132
Ngày tham gia: Thứ 2 Tháng 11 07, 2005 5:26 am
Đến từ: hue


Quay về Lịch sử vật lý!

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron