2015 - dạy học theo hướng phát triển năng lực

2015 - dạy học theo hướng phát triển năng lực

Bài viết chưa xemgửi bởi khach » Thứ 6 Tháng 2 03, 2012 6:08 pm

Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hoá của chương trình định hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điều khiển đầu ra.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mục tiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực.
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh „competentia“. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động. chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau:
 Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
 Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
 Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn...;
 Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;
 Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống...;
 Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học;
 Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể / phải đạt được những gì?
b) Mô hình cấu trúc năng lực
Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó. Các năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ, và các vai trò vị trí công việc. Vì vậy, các năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc. Từ hiểu biết về năng lực như vậy, ta có thể thấy các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình:
(1) Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”;
(2) Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình;
(3) Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau.
Theo quan điểm của các nha sư phạm nghề Đức, cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:

Các thành phần cấu trúc của năng lực
- Năng lực chuyên môn (Professional competency):
Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả
chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực „nội dung chuyên môn“, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương
pháp chuyên môn.
- Năng lực phương pháp (Methodical competency):
Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức.
- Năng lực xã hội (Social competency):
Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với những thành
viên khác.
- Năng lực cá thể (Induvidual competency):
Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
Mô hình năng lực theo OECD: Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD, người ta cũng sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên môn.
Nhóm năng lực chung bao gồm:
• Khả năng hành động độc lập thành công;
• Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ;
• Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất.
Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt.
Ví dụ nhóm năng lực chuyên môn trong môn Toán bao gồm các năng lực sau đây:
• Giải quyết các vấn đề toán học;
• Lập luận toán học;
• Mô hình hóa toán học;
• Giao tiếp toán học;
• Tranh luận về các nội dung toán học;
• Vận dụng các cách trình bày toán học;
• Sử dụng các ký hiệu, công thức, các yêu tố thuật toán.
Ở Việt Nam từ năm 2008 trong lĩnh vực dạy nghề đã tiến hành nghiên cứu và ban hành các tiêu chuẩn năng lực nghề trên cơ sở phân tích nghề, từ đó đó thiết kế chương trinh khung hoặc chương trình đào tạo chi tiết.
c) Nội dung và PPDH theo quan điểm phát triển năng lực
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực:


Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.

Lãng tử đa tình, khách đã biết yêu!!!
Nick khach này là nick công cộng do các admin cấp phép. pass là 1234567. Yêu cầu không đổi pass mới đỡ mất công các admin đổi lại! Xin cảm ơn!
Hình đại diện của thành viên
khach
Thành viên nhiệt tình
Thành viên nhiệt tình
 
Bài viết: 423
Ngày tham gia: Thứ 6 Tháng 3 11, 2005 12:04 pm

Re: 2015 - dạy học theo hướng phát triển năng lực

Bài viết chưa xemgửi bởi bin » Thứ 7 Tháng 2 04, 2012 12:05 am

Những nhóm năng lực then chốt : theo OECD
Using Tools Interactively (Sử dụng công cụ một cách tương tác)
Tại sao:
- Nhu cầu cập nhật công nghệ mới
Sự cần thiết làm tương thích giữa công cụ với mục tiêu cá nhân
Nhu cầu tạo ra sự đối thoại chủ động với thế giới
A - Sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và văn bản một cách sống động, linh hoạt
B- Sử dụng kiến thức và thông tin một cách linh hoạt
Nhận biết và xác định điều mình chưa biết
Xác nhận, định xứ và truy cập các nguồn thông tin phù hợp ( bao gồm cả kiến thức và thông tin trong không gian ảo)
Đánh giá chất lượng, mức độ phù hợp, giá trị của thông tin cũng như nguồn của nó
Sắp xếp và tổ chức kiến thức và thông tin
C- Sử dụng công nghệ một cách phù hợp (linh hoạt)

Interacting in Heterogeneous Groups (Tương tác qua lại trong nhóm đa dạng)
Tại sao:
Cần có năng lực đối mặt với sự phức tạp của xã hội
Tầm quan trọng của sự cảm thông
Tầm quan trọng của các năng lực xã hội
A- tạo mối quan hệ tốt với người khác
B – cộng tác, làm việc nhóm
Khả năng trình bày ý tưởng và lắng nghe ý tưởng của người khác.
Hiểu được tiến trình thảo luận và tuân theo lịch trình làm việc (của nhóm).
Khả năng xây dựng mối quan hệ tạm thời hoặc bền vững
Khả năng thương lượng
Khả năng ra quyết định cho phép dung hòa nhiều ý kiến khác biệt

( khả năng đưa ra quyết định tối ưu, dung hòa được đa số các ý kiến khác nhau.)

C- Quản lí và giải quyết xung đột


Acting Autonomously (Tự chủ trong hành động )
Tại sao?
Nhu cầu tự ý thức về bản thân và thiết lập mục tiêu sống trong thế giới phức tạp
Nhu cầu thực hiện quyền và nghĩa vụ
Nhu cầu tìm hiểu môi trường sống và chức năng của nó
Năng lực nào?
A. Hành động với cái nhìn tổng thể
B. Tạo dựng và thực hiện các kế hoạch và dự án cá nhân
+ Thiết lập dự án và hoạch định mục tiêu
+ Xác định và đánh giá cả hai nguồn lực: nguồn lực đã có và nguồn lực mà dự án cần (thời gian và tiền bạc)
+ Xác định các mục đích ưu tiên
+ Cân bằng các nguồn lực cần thiết để đáp ứng được các mục tiêu đa dạng
+ Học từ những hoạt động đã qua nhằm đưa ra kết quả tương lai;
+ Giám sát quá trình, đưa ra điều chỉnh khi các dự án không theo ý muốn
+ Bảo vệ và đòi hỏi quyền lợi, hứng thú, giới hạn và nhu cầu của bản thân.

C. đấu tranh và đòi quyền, hứng thú, giới hạn và sự cần thiết

(Trích từ: DeSeCo)
⇒ • √ ∠ ∞ ≈ ∫ ≡ α β γ δ ε η κ λ π ρ σ φ ω Γ Δ ∇ Θ Λ Σ Φ Ω
Thí nghiệm ảo java/ph14vn/
Trang chủ Khoa lý http://vatly.hnue.edu.vn
Hình đại diện của thành viên
bin
Giảng viên
 
Bài viết: 3315
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 3 10, 2005 1:54 pm
Đến từ: Khoa Vật lí - ĐHSPHN
Facebook: http://www.facebook.com/vanbien

Re: 2015 - dạy học theo hướng phát triển năng lực

Bài viết chưa xemgửi bởi lan » Thứ 4 Tháng 3 11, 2015 1:43 am

tài liệu tập huấn đổi mới kiểm tra đánh giá năng lực hs.
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
lan
Thành viên mới
Thành viên mới
 
Bài viết: 2
Ngày tham gia: Thứ 6 Tháng 12 09, 2011 5:15 pm


Quay về Phương pháp giảng dạy vật lý

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron