LƯỢC SỬ THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

LƯỢC SỬ THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

Bài viết chưa xemgửi bởi FFB45092 » Chủ nhật Tháng 9 28, 2008 9:45 pm

1 Từ thế kỉ 17 đến cuối thế kỉ 19:
Thiên văn học hiện đại được đánh dấu bằng sự ra đời của cơ học cổ điển (hay còn gọi là cơ học Newton), qua việc năm 1687, Newton(1642 – 1727)

Hình ảnh

cho ra đời tác phẩm “Các nguyên lí toán học của triết học tự nhiên”, trong đó ông nêu ra các nghiên cứu của mình về chuyển động của các vật thể và tương tác giữa chúng. Các khám phá của Newton được thể hiện trong 3 định luật chuyển động mang tên ông - 3 định luật cơ bản của động lực học và định luật vạn vật hấp dẫn. Nhờ các định luật trên, Newton đã trở thành người thực hiện bước quan trọng nhất trong việc chứng minh hệ nhật tâm Copernics. Cơ học cổ điển với nền tảng là các định luật của Newton có những ảnh hưởng và đóng góp quan trọng nhất cho hầu hết các thành tựu vật lí và thiên văn trong suốt các thế kỉ 17,18 và 19.
Năm 1705, E.Halley dự đoán chính xác chu kì của sao chổi hay xuất hiện nhất và tiên đoán sự quay lại của nó vào năm 1758. Sao chổi đó được mang tên ông, gọi là sao chổi Halley.

Hình ảnh

Năm 1725, nhà thiên văn Anh Flamsteed đưa danh mục sao của mình gồm 2866 sao với độ sáng và vị trí tương đối chính xác. Ông đánh số các sao theo từng chòm sao và theo chiều tăng của toạ độ RA (Right Ascension - khoảng cách góc tích từ điểm xuân phân đến hình chiều của ngôi sao lên xích đạo trời).
Năm 1728, Halley khám phá ra sự chuyển động của các ngôi sao trên thiên cầu. James Bradley đề xuất ý kiến về lí thuyết quang sai của các sao cố định.
Năm 1744, sao chổi 6 đuôi Cheseaux được phát hiện

Hình ảnh

Năm 1750, Thomas Wright nghiên cứu và đề xuất ý tưởng về sự ra đời của Hệ Mặt Trời
Năm 1752, nhà Thiên văn Pháp Lacaille lập danh mục 1935 sao của thiên cầu Nam và xác định thị sai của Mặt trăng (thị sai ngày)
Năm 1755, Immanuel Kant đề xuất giả thuyết hình thành các hành tinh và các thiên thể khác trong vũ trụ.
Năm 1781, Charles Messier quan sát và thành lập danh mục 103 tinh vân, đánh số từ M1 – M103, gọi là danh mục tinh vân Messier (ngày nay nhiều tinh vân trong số đó được biết đến là các thiên hà hoặc cụm thiên hà, tuy nhiên danh mục Messier ngày nay vẫn còn được sử dụng)

Hình ảnh

Cũng trong năm 1781, Herschel tìm ra Sao Thiên Vương.
Năm 1783, Herschel phát hiện ra chuyển động của Mặt Trời trong không gian
Năm 1789, Herschel sử dụng chiếc kính thiên văn phản xạ với gương cầu 1,2m và tiêu cự 12,2 m để quan sát các ngôi sao trong nhiều tinh vân khác.
Năm 1796, Laplace đề xuất giả thuyết tinh vân, theo đó Hệ Mặt Trời đa hình thành từ một đám tinh vân tiền hành tinh, sau đó các vành vật chất tách ra tạo thành các hành tinh có quĩ đạo chuyển động quanh Mặt Trời.
Năm 1839 – 1840, bức ảnh thiên văn đầu tiên được chụp bởi Draper, đó là một bức ảnh chụp bề mặt Mặt Trăng.
Năm 1842, Doppler khám phá ra hiện tượng dịch bước sóng của các nguồn phát chuyển động. Cụ thể là nếu nguồn chuyển động ra xa người quan sát thì bước sóng của nó sẽ dài thêm ra và ngược lại. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Doppler.
Năm 1846, Galle phát hiện ra hành tinh thứ 8 của Hệ Mặt Trời là Sao Hải Vương nhờ áp dụng các kết quả tính toán về sự lệch quĩ đạo Sao Thiên Vương của Leverrier.
Năm 1851, lần đầu tiên có một thí nghiệm chứng minh sự tự quay của Trái Đất. Foucault sử dụng một con lắc với dây treo rất dài treo lên trần nhà điện Pantheon (Paris), mặt phẳng dao động của con lắc xoay đi theo đúng chu kì tự quay của Trái Đất đã tính được, điều này đã chứng minh cho sự tự quay của Trái Đất.
Năm 1862,Argelender (Đức) dưa ra danh mục sao gồm 546847 sao.
2. Từ thế kỉ 20 đến nay:
Đầu thế kỉ 20, vật lí thế giới bước sang một trang mới, thay đổi một phần lớn nhận thức của nhân loại nhờ 2 lí thuyết vật lí mà đến ngày nay vẫn là 2 mũi nhọn của vật lí hiện đại: thuyết lượng tử do Max Planck đề xướng năm 1900 và thuyết tương đối đưa ra bởi Einstein (thuyết tương đối hẹp năm 1905 và thuyết tương đối rộng năm 1915). 2 lí thuyết này đã góp phần quan trọng nhất vào tất cả các khám phá của nhân loại về vũ trụ, không gian và thời gian trong thế kỉ 20 và cả những năm đầu tiên của thế kỉ 21.
Năm 1900, Chaberlin và Moulton đề xuất giả thuyết va chạm về sự hình thành hệ Mặt Trời, theo đó các hành tinh được hình thành do sự va chạm của Mặt Trời sơ khai với một ngôi sao khác.
Cũng năm này, Max Planck nêu ra lí thuyết về sự lượng tử hoá năng lượng. Thuyết lượng tử cho biết năng lượng không liên tục như chúng ta vẫn tưởng mà thực chất gồm những phần gián đoạn gọi là các lượng tử năng lượng. Tiếp đó Einstein đã trên cơ sở của thuyết này đưa ra một đề xướng khác về tính hạt của ánh sáng mà theo đó mỗi photon mang theo một năng lượng xác định có giá trị chính bằng lượng tử năng lượng và giải thích hiện tượng quang điện bằng cách này. Trong thời gian tiếp theo, thuyết lượng tử tiếp tục được hoàn tất bởi các nhà vật lí lượng tử khác mà quan trọng nhất là các đóng góp của Niels Bohr và Weiner Heisenberg.
Năm 1905, Albert Einstein nêu ra thuyết tương đối hẹp với 2 nội dung chính là mọi định luật vật lí là như nhau với người quan sát ở các hệ qui chiếu quán tính có vận tốc bất kì và vận tốc ánh sáng là vận tốc lớn nhất và là vận tốc tuyệt đối có giá trị như nhau đối với mọi hệ qui chiếu có vận tốc bất kì. Năm 1915, Einstein hoàn thiện và công bố thuyết tương đối rộng về trường hấp dẫn nhằm giải thích bản chất không gian và thời gian của vũ trụ. Năm 1916, phương trình trường mô tả vũ trụ của thuyết này ra đời Phương trình này có ý nghĩa hết sức quan trọng và hằng số vũ trụ học trong phương trình (mà chính tác giả của nó từng cho là sai lầm) đến nay là hằng số quan trọng nhất giúp nhân loại biết rõ về tương lai của cả vũ trụ.
Năm 1910-1913, Hertzprung (Đan Mạch) và Russel (Mỹ) độc lập khám phá ra mối liên quan giữa các vạch quang phổ của các ngôi sao và cấp sao của chúng, đưa ra biểu đồ thể hiện độ trưng và nhiệt độ ngôi sao mang tên 2 ông biểu đồ Hertzsprung – Russell (biểu đồ H-R)

Hình ảnh

Năm 1915, Adams phát hiện ra sao lùn trắng đầu tiên, sao Sirius B.
Năm 1919, Eddington chứng minh thành công thuyết tương đối rộng Einstein bằng việc quan sát hiện tượng nhật thực toàn phần trên đảo Principe, qua đó xác minh được tính chính xác của hiệu ứng lệch đường đi tia sáng qua Mặt Trời có thể quan sát được khí có nhật thực toàn phần.
Năm 1929, bằng các quan sát bằng kính viễn vọng suốt những năm 1920, Edwin Hubble phát hiện ra sự dịch chuyển của phổ các thiên hà ở xa về phía đỏ, áp dụng hiệu ứng Doppler cho hiện tượng này, Hubble kết luận rằng tất cả các thiên hà đều đang chuyển động ra xa chúng ta ngày càng nhanh, đang rời xa nhau theo mọi hướng, và như vậy là vũ trụ đang giãn nở. Sự rời xa của các thiên hà được biểu diễn qua định luật Hubble.
Năm 1930, nhà thiên văn nghiệp dư Tombaugh phát hiện ra sao Diêm Vương - Pluto.
Năm 1937 – 1940, George Gamov đưa ra lí thuyết về sự tiến hoá của các ngôi sao.
Năm 1948, Gamov cũng đề xuất lí thuyết về sự khởi đầu của vũ trụ từ một vũ nổ lớn, vũ trụ có điểm khởi đầu đặc, nóng – thuyết Big Bang (vụ nổ lớn). Lí thuyết này cho biết vũ trụ đã hình thành từ một vũ nổ lớn cách đây khoảng 15 tỉ năm sinh ra vật chất, không gian và thời gian.
Ngày 4/10/1957, vệ tinh nhân tạo đầu tiên Sputnik1 của Liên Xô được phóng lên vũ trụ. Vệ tinh đã bay trên không trung 92 ngày, mở đầu cho viiệc loài người tiến hành thực nghiệm không gian.

Hình ảnh

Năm 1959, Liên Xô phóng máy thăm dò số 3 lên Mặt Trăng. Qua những bức ảnh do máy thăm dò này chụp được, lần đầu tiên con người thấy được diện mạo phía bên kia của mặt trăng.
Ngày 12/4/1961, lần đầu tiên con người đặt chân lên vũ trụ. Người đầu tiên bay lên vũ trụ là Yuri Gagarin - nhà du hành 27 tuổi của Liên Xô, trên tàu Vostok1.

Hình ảnh Hình ảnh

Lần đầu tiên, giấc mơ chinh phục vũ trụ của loài người trở thành hiện thực. Yuri Gagarin trở thành anh hùng của toàn thế giới, là biểu tượng sáng chói về lòng dũng cảm và khát vọng hiểu biết của nhân loại.



Năm 1965, Penzias và Wilson khám phá ra sự tồn tại của bức xạ phông vũ trụ ở nhiệt độ 2,7K. Khám phá này là một bằng chứng quan trọng chứng minh cho thuyết Big Bang. Loại bức xạ phông này (còn gọi là bức xạ tàn dư) đã được Big Bang tiên đoán từ trước đó, theo đó đây chính là loại bức xạ còn sót lại và giảm nhiệt độ từ Big Bang đến nay.
Năm 1967, Pulsar đầu tiên được phát hiện, đó là các thiên thể nhỏ nhưng có tốc độ quay rất lớn (có nghĩa là khối lượng của nó là rất lớn), ngày nay đã biết pulsar là các ngôi sao nặng sao khi chết đi co lại thành các khối neutron có mật độ rất lớn, gọi là sao neutron.
Năm 1969, nhà du hành Mỹ Neil Armstrong

Hình ảnh

đã đặt bước chân đầu tiên lên Mặt Trăng. Đây là cả 1 bước tiến dài của nhân loại . Phi hành đoàn gồm 3 người Neil Armstrong, Edwin Aldrin và Micheal Collins,trên tàu Apollo 11

Hình ảnh Hình ảnh

Năm 1977 – 1986, các tàu Voyager 1 và 2 được phóng lên và lần lượt chụp ảnh các hành tinh nhóm ngoài của Hệ Mặt Trời, chúng cũng là 2 tàu du hành đầu tiên đã ra khỏi biên giới của Hệ Mặt Trời.
Năm 1981, Alan Guth nêu ra lí thuyết lạm phát để mô tả và giải thích sự giãn nở gia tốc của vũ trụ.
Năm 1983, con người bắt đầu dùng máy vô tuyến để thu nhận những tín hiệu phát đến từ bên ngoài hành tinh.
Năm 1990, kính thiên văn vũ trụ Hubble được đưa lên vũ trụ với nhiệm vụ chụp ảnh các thiên hà ở xa để tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ.
Năm 1998, Năm 1998, nhóm dự án vũ trụ học sao siêu mới (Supernova Cosmology Project) do Saul Perlmutter đứng đầu khi quan sát các sao siêu mới phát hiện rằng vũ trụ đang giãn nở với gia tốc ngày càng tăng và như thế thì vũ trụ sẽ giãn nở mãi.
Ngày 23/3/2001, lịch sử huy hoàng trong suốt 15 năm của trạm vũ trụ Hòa Bình đã khép lại, trạm này được cho rơi xuống Nam Thái Bình Dương theo quỹ đạo đã dự tính.

Hình ảnh

Hiện nay thiên văn học tập trung vào 2 mũi nhọn cơ bản. Thứ nhất là vũ trụ học, nghiên cứu cấu trúc và sự tiến hoá của vũ trụ trên nền tảng là các lí thuyết vật lí hiện đại (mà chủ yếu là cơ học lượng tử). Hướng mũi nhọn thứ 2 là hàng không vũ trụ, ứng dụng các công nghệ hàng không để nghiên cứu các thiên thể trong Hệ Mặt Trời
I'M MÈO
Hình đại diện của thành viên
FFB45092
Thành viên mới
Thành viên mới
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 6 10, 2008 7:09 am
Đến từ: ĐH Thương Mại

Re: LƯỢC SỬ THIÊN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

Bài viết chưa xemgửi bởi nguyen_thi_tuyet » Thứ 2 Tháng 9 29, 2008 7:49 pm

hihi,hay thật bây giờ mình mới biết đến đấy chứ từ trước mình có cách hiểu khác và ...nói cho cùng thì vẫn còn yếu lắm nhưng lại rất ham mê Thiên văn longlanh ,hồi bé khi nghe tới hiện tượng Nhật thực Hay Nguyệt thực hay gì gì đó thì toàn bị Dọa thế này thế nọ....rồi khi Lớn lên thì không bị dọa nữa và tìm hiểu qua sách báo thì cũng hiểu được phần nào nhưng hum nay thì mình mới thực sự hiểu đấy hay thật....nhân đây tặng các bạn mấy bức ảnh về thiên văn nhá
Saturn.JPG
Saturn.JPG
Bạn không được cấp phép để xem tập tin đính kèm trong bài viết này.
cooliTHANH MIỆN - HẢI DƯƠNG :clap


không có gì đặc biệt, sống theo tiêu chí :
"bình thường nhưng không tầm thường"
Hình đại diện của thành viên
nguyen_thi_tuyet
Thành viên nhiệt tình
Thành viên nhiệt tình
 
Bài viết: 360
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 8 19, 2008 3:05 pm
Đến từ: k56 - THANH MIỆN - HẢI DƯƠNG


Quay về Kiến thức.

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách