LƯỢC SỬ THIÊN VĂN HỌC CẬN ĐẠI

LƯỢC SỬ THIÊN VĂN HỌC CẬN ĐẠI

Bài viết chưa xemgửi bởi FFB45092 » Chủ nhật Tháng 9 28, 2008 9:01 pm

Khác với thời kì trung đại, thiên văn học thời kì cận đại là mốc son trong sự tiến bộ về nhận thức của con người về Trái Đất, về vũ trụ. Đây cũng là thời kì có nhiều sự kiện đáng chú ý.
Như ta đã biết, thuyết nhật tâm đã ra đời từ thời cổ đại và ngay từ những ngày đầu tiên khi mô hình địa tâm Ptolemy bị nghi ngờ, một mô hình nhật tâm đã được đưa ra với mục đích phủ nhận mẫu địa tâm nhưng tất cả mọi quan sát cũng như sự can thiệp của giáo hội thời đó đều có tính phủ nhận làm cho nó dần bị lãng quên. Năm 1543, cũng là năm cuối cùng của cuộc đời mình,nhà thiên văn học người Ba Lan Nicolais Copernics (1473 – 1543)

Hình ảnh

đã cho xuất bản tác phẩm “Về sự quay của thiên cầu”, trong đó ông mô tả lại toàn bộ cấu tạo của Hệ Mặt Trời hoàn toàn khác với mô hình trước đây của Ptolemy.Ông giải thích cặn kẽ mô hình nhật tâm của mình như sau:
1-Mặt Trời nằm ở trung tâm vũ trụ (do đó gọi là hệ nhật tâm Copernics)
2-Các hành tinh chuyển động cùng chiều quanh Mặt Trời trên các quĩ đạo tròn theo thứ tự từ trong ra ngoài là Sao Thuỷ, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hoả, Sao Mộc và Sao Thổ .
3-Ngoài chuyển động quanh Mặt Trời, Trái đất còn tự quay quanh trục của nó, sinh ra hiện tượng ngày và đêm.
4-Mặt Trăng là một vệ tinh chuyển động tròn quanh Trái Đất.
5-Các sao rất xa cố định trên thiên cầu.

Hình ảnh

Về cơ bản, mô hình hệ nhật tâm Copernics mô tả tương đối đúng về cấu trúc hệ Mặt Trời và giải thích được hiện tượng nhật động và chuyển động của các thiên thể trên thiên cầu.
Mô hình nhật tâm sau khi ra đời vẫn bị phản đối dữ dội từ phía Nhà thờ do nó đối lập lại với mô hình Ptolemy đã đứng vững hơn 1000 năm, hơn thế nữa nó lại “chống lại sự sắp đặt của Chúa trời”. Jordano Bruno (1548 – 1600)

Hình ảnh

là người đầu tiên dũng cảm bảo vệ đến cùng mô hình nhật tâm. Tiếp tục ý tưởng về hệ nhật tâm,Bruno còn cho rằng mỗi sao là một Mặt Trời (chứ Mặt Trời không thể là trung tâm của vũ trụ) và quanh các vì sao cũng có thể có các hành tinh, và như vậy thì sự sống không chỉ tồn tại trên Trái đất mà là phổ biến trong vũ trụ. Những tư tưởng này của Bruno làm Giáo hội nổi giận và kết quả là Bruno bị đưa lên giàn thiêu vào năm 1600 vì lí do “Chống lại sự sắp đặt của Chúa trời”.
Năm 1572, Tycho Brahe - một nhà thiên văn nổi tiếng người Đan Mạch – đã phát hiện và quan sát sự xuất hiện của một sao siêu mới trong chòm sao Cassiopeia. Và trong những năm 1577 - 1588, ông tiếp tục thực hiện những quan sát hết sức tỉ mỉ của mình và lập ra danh mục tương đối chính xác của 788 sao trên thiên cầu.
Năm 1576, Brahe thành lập đài thiên văn Uraniborg.

Hình ảnh

Năm 1603, Johanne Kepler xác lập danh mục sao của mình, hoàn chỉnh hơn các danh mục đã có, năm 1604 ông quan sát và phát hiện một sao siêu mới trong chòm sao Ophiuchus
Nói về Thiên văn học cận đại, không thể không nói đến Galileo Galilei (1564–1642),

Hình ảnh

một trong những người đầu tiên dũng cảm bảo vệ cho mô hình hệ nhật tâm Copernics. Có thể nói, Galilei là người sáng lập ra vật lí thực nghiệm và là người đầu tiên khám phá ra nội dung chính của định luật quán tính mà sau này trở thành nội dung của định luật I Newton – một trong những định luật cơ bản nhất của động lực học. Chúng ta nên đề cập 1 chút về vật lí ở đây, vì vật lí cũng có liên quan đến thiên văn học, đặc biệt là ở thời kì này. Học thuyết Aristotle, một học thuyết đã ăn sâu vào nhận thức của con người suốt 2000 năm khẳng định rằng vũ trụ là tĩnh, mọi định luật là đã được định sẵn trên cái tĩnh đó, mọi chuyển động đều là sai với tự nhiên. Dựa trên cơ sở đó mà Ptolemy chỉ ra rằng các ngôi sao là những quả cầu lửa đính trên một khối cầu pha lê bao quanh Trái Đất. Và những người theo học thuyết Aristotle đều phản đối thuyết nhật tâm. Galilei nghiên cứu các định luật của vật lí Aristotle và nhận thấy nhiều điểm vô lí trong học thuyết này. Bằng nhiều thí nghiệm cụ thể, ông đã đưa ra những chứng minh về sự sai lầm của học thuyết Aristotle và ông cũng đã đưa ra lí do khiến ta không thể cảm nhận thấy sự chuyển động của Trái Đất khi ta đứng trên nó, bước đầu chứng minh sự đúng đắn của thuyết nhật tâm.
Năm 1604, Galilei đã chỉ ra sự bùng nổ thời kì cuối của một ngôi sao mà ông tạm gọi là hiện tượng Siêu tân tinh (Super Nova) khi bầu trời xuất hiện 1 ngôi sao rất sáng, làm giới khoa học lúc đó xôn xao với nhiều ý kiến khác nhau.
Năm 1608, Lippershey, một thợ kính người Hà Lan khám phá ra cách ghép 2 thấu kính với nhau để tăng độ phóng đại, chiếc kính thiên văn đầu tiên ra đời.

Hình ảnh

Năm 1609, áp dụng công trình của Lippershey, Galileo Galilei đã trở thành người đầu tiên sử dụng kính thiên văn để quan sát bầu trời. Ngày 7 và ngày 13 /1/1610, Galilei đã dùng chiếc kính có độ phóng đại 30 lần đó quan sát 4 điểm sáng gần sao Mộc và ông đoán định 4 thiên thể này quay quanh sao Mộc giống như Mặt Trăng quay quanh Trái Đất (4 vệ tinh Galilei – Galilean Satellites, khi đó Galilei tạm gọi là các vệ tinh Medici với mục đích lấy lòng vị giáo hoàng yêu thích thiên văn tên Medici).

Hình ảnh

Ông cũng đã quan sát được các lỗ thiên thạch trên Mặt Trăng, sự tồn tại của dải Ngân Hà với rất rất nhiều sao và quan trọng nhất là bằng quan sát qua kính thiên văn của mình, Galilei đã chứng minh được Trái Đất không thể là trung tâm của vũ trụ như mô hình vũ trụ địa tâm Ptolemy. Qua kính thiên văn, Galilei nhận thấy Mặt Trăng cũng có núi non và các thung lũng như Trái Đất, như vậy làm sao có thể khẳng định Trái Đất có một vị trí ưu tiên trong vũ trụ? Và rõ ràng, Mặt Trăng không thể là “quả cầu lửa” như lời Ptolemy. Việc phát hiện ra 4 vệ tinh lớn của sao Mộc cũng chứng minh không chỉ Trái Đất mới có vệ tinh quay quanh. Nếu như sao Mộc cũng có các vệ tinh quay quanh như Mặt Trăng quay quanh Trái Đất thì sao Mộc và Trái đất cũng đều cần phải quay quanh một tâm chung nào đó. Điều này đã được Galilei đưa vào cuốn “Đối thoại về hai hệ thống vũ trụ” như một bằng chứng thực nghiệm góp phần vào việc khẳng định mô hình nhật tâm Copernics. “Đối thoại về hai hệ thống vũ trụ” ,xuất bản năm 1632, là tác phẩm thiên văn học lớn nhất của Galilei. Qua tác phẩm này, ông chỉ ra sự khác biệt giữa 2 mẫu Ptolemy và Copernics để chứng minh sự đúng đắn của hệ nhật tâm Copernics đồng thời làm sụp đổ hoàn toàn thuyết địa tâm Ptolemy. Tác phẩm này của Galilei sau này đã khiến nhà thờ nổi giận và ông phải chịu khá nhiều hình phạt về việc này.

Đã nói đến Galilei, không thể không nhắc đến Johanne Kepler (1571 – 1630).

Hình ảnh

Chính Kepler là người đã gửi cho Galilei toàn bộ nội dung của hệ nhật tâm Copernics để từ đó ra đời cuốn “Đối thoại về hai hệ thống vũ trụ ”.
Năm 1609, Kepler tìm ra 2 định luật đầu tiên của mình về quĩ đạo và vận tốc chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời:
1 - Các hành tinh chuyển động quanh Mặt trời theo quĩ đạo hình elip mà Mặt Trời nằm tại một trong 2 tiêu điểm của elip quĩ đạo.
2 - Bán kính vectơ của hành tinh quét những diện tích bằng nhau trong nhưng khoảng thời gian bằng nhau.
Năm 1919, Kepler khám phá ra định luật cuối cùng (định luật 3 Kepler) về chuyển động hành tinh, trong đó liên hệ bán trục lớn quĩ đạo với chu kì quĩ đạo của hành tinh:
- Bình phương chu kì chuyển động của hành tinh tỷ lệ với luỹ thừa bậc ba của nửa trục lớn quĩ đạo

Như vậy, bằng những phương pháp toán học chính xác của mình, Kepler đã cho ra đời một ngành khoa học mới trong lịch sử khám phá vũ trụ của con người – cơ học thiên thể.

Năm 1656, Huygens khám phá ra các tính chất của vành đai sáng của Sao Thổ (Saturn’s Ring) và vệ tinh lớn nhất của nó – Titan.
Năm 1668, Newton chế tạo ra chiếc kính thiên văn phản xạ đầu tiên. Khác với kính thiên văn khúc xạ như của Galilei, kính thiên văn phản xạ sử dụng gương cầu lõm làm vật kính, cho độ phân giải cao hơn kính khúc xạ rất nhiều.

Hình ảnh
I'M MÈO
Hình đại diện của thành viên
FFB45092
Thành viên mới
Thành viên mới
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 3 Tháng 6 10, 2008 7:09 am
Đến từ: ĐH Thương Mại

Quay về Kiến thức.

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách