Mô hình nguyên tử Hidro của Bohr

Năm 1939 nhà vật lý người Đan Mạch Niels Bohr (1885 - 1962), mở rộng mô hình nguyên tử của Rutherford để giải thích quang phổ vạch của Hidro. Trong mô hình này e mang điện tích âm chuyển động quanh hạt nhân dưới tác dụng của lực Culông từ lõi hạt nhân.

Electrôn không chỉ được mô tả dưới dạng hạt mà còn được mô tả dưới dạng sóng vật chất (Sóng De-Broglie). Tuy nhiên trong mô hình này ta chỉ quan tâm tới các giả thuyết của Bohr.

Theo quan niệm của điện động lực cổ điển, một Elektron quay quanh một hạt nhân sẽ bức xạ sóng điện từ liên tục. Đến một lúc nào đó động năng của e sẽ không đủ lớn để giữ nó trên quĩ đạo, khi đó nó sẽ bị rơi vào trong hạt nhân . Do đó Bohr đã đưa ra hai giả thuyết sau:
- các e chỉ tồn tại trong các trạng thái dừng ở trạng thái này nguyên tử không bức xạ
- Trong quá trình chuyển trạng thái nguyên tử sẽ hấp thụ ( khi chuyển từ trạng thái có năng lượng thấp lên cao) hoặc bức xạ ( khi chuyển trạng thái từ cao xuống thấp) ra sóng ánh sáng.
Nhờ vào hai giả thuyết này người ta đã tính toán ra các tần số ánh sáng ở quang phổ vạch của H. Các kết quả tính toán này phù hợp với các giá trị đo được từ thực nghiệm.

Quan niệm e tồn tại trong các trạng thái dừng của Bohr là bước đệm để chuyển tiếp lí thuyết cấu tạo nguyên tử cổ điển sang lý thuyết mới đó là cơ học lượng tử và điện động lực học lượng tử.


Mô phỏng này mô tả nguyên tử H dưới bức tranh sóng hoặc bức tranh hạt. Ta có thể chọn các mức lượng tử chính để xác định các giá trị các mức năng lượng tương ứng. Ở bên cạch mô phỏng có ghi các giá trị bán kính quĩ đạo và năng lượng toàn phần.

Kích chuột vào quĩ đạo bất kì, giữ chuột và dịch chuyển ta sẽ thấy sự biến đổi các mức năng lượng .

 

 
Physik
Physik-Applets

URL: http://www.walter-fendt.de/ph14d/beschleunigung.htm
© Walter Fendt, 2. November 2000
Chỉnh lần cuối: 20. 3.2004
Người dịch :NVB

Trở về diễn đàn.